1. Lịch sử hình thành và phát triển của dòng tranh dân gian Đông Hồ
Tranh dân gian Đông Hồ – xuất xứ từ làng Đông Hồ (xưa gọi là làng Đông Mại hay còn gọi là làng Mái, trước thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - là một trong những dòng tranh dân gian lâu đời nhất của Việt Nam. Theo nhiều tư liệu dân gian và nghiên cứu văn hoá, nghề làm tranh đã hình thành cách đây 5 thế kỷ (hơn 500 năm), hưng thịnh nhất vào các thế kỷ XVII–XIX, khi làng tranh trở thành trung tâm sản xuất tranh phục vụ Tết và các lễ hội mùa xuân của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.
Tranh dân gian Đông Hồ là dòng tranh nổi tiếng nhất trong 4 dòng tranh dân gian của Việt Nam với những giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo. Trong lịch sử phát triển gần 500 năm, tranh dân gian Đông Hồ đã trở thành một sản phẩm văn hóa tinh thần quen thuộc đối với nhiều thế hệ người dân Việt Nam.
Tranh dân gian Đông Hồ mang một bản sắc riêng, hoàn toàn khác biệt với các dòng tranh dân gian khác ở kỹ thuật in ấn, quy trình chế tác (hoàn toàn thủ công), giấy in (giấy dó bồi điệp), màu sắc (lấy từ cây cỏ, vật phẩm thiên nhiên) và nội dung thể loại phong phú (tranh thờ cúng, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt, tranh phong cảnh, tranh truyện...).
Trong tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sinh động, chân thực những khía cạnh đa dạng của cuộc sống người dân ở các làng quê Việt Nam, từ đời sống tâm linh, lịch sử đến phong tục, tập quán, sinh hoạt. Với những đóng góp rất riêng vào dòng chảy chung của nghệ thuật tạo hình Việt Nam, tranh dân gian Đông Hồ đã góp phần vun đắp, làm giàu có thêm cho nền mỹ thuật dân tộc.
Do vậy, từ thế kỷ XIX tranh dân gian Đông Hồ đã thu hút được sự chú ý tìm hiểu của các nhà nghiên cứu mỹ thuật người Pháp, sau này là của các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia về mỹ thuật ở cả trong và ngoài nước.
Với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc như vậy, tranh dân gian Đông Hồ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012.
Tuy nhiên, trong điều kiện xã hội hiện nay, dòng tranh dân gian này đang đứng trước nguy cơ bị mai một rất cao. Nếu trong quá khứ, làng Đông Hồ từng nổi tiếng là một làng tranh sầm uất, buôn bán tranh tấp nập, cung cấp tranh cho hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ với 17 dòng họ trong làng đều làm tranh, thì nay chỉ còn lại 2 dòng họ gắn bó với nghề. Phần lớn các gia đình trong làng đã chuyển sang nghề làm hàng mã. Các nghệ nhân làm tranh đang lần lượt ra đi, trong khi thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề truyền thống.
Do vậy, việc xây dựng Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” đệ trình UNESCO xét đăng ký vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp là một việc làm rất cần thiết và cấp bách để giữ gìn, bảo vệ một di sản văn hóa quý giá của dân tộc, vực dậy một làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một và góp phần tôn vinh nét đẹp của văn hóa Việt Nam.
2. Đề tài và nội dung chính trong tranh dân gian Đông Hồ
2.1. Đề tài thể hiện
Tranh dân gian Đông Hồ là dòng tranh thủ công được tạo nên từ các vật liệu tự nhiên như: lá chàm, sỏi son, hoa hoè, quả dành dành, sò điệp, lá tre, rơm nếp... với 5 màu cơ bản (xanh, vàng, đỏ, trắng, đen) in trên giấy dó đã được phủ một lớp hồ điệp. Với những nội dung phong phú, đa dạng, phù hợp tâm tư, nguyện vọng, tư tưởng và tình cảm của người dân, sản phẩm tranh dân gian Đông Hồ đã đi vào cuộc sống, gắn với tập tục treo tranh vào ngày Tết cổ truyền, tiết Trung thu, thờ cúng tổ tiên. Hiện nay, tranh dân gian Đông Hồ là một trong những loại hình di sản văn hoá mang đậm dấu ấn bản sắc văn hoá Việt Nam về cái đẹp, về triết lý cuộc sống, cũng như về mặt thẩm mỹ được bố cục đẹp, hài hoà về màu sắc, cân đối về hội hoạ.
Tranh Đông Hồ có một số thể loại chính như: tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt, tranh phong cảnh, tranh truyện...
- Tranh thờ: vẽ các hình tượng, vật dụng phục vụ việc thờ cúng trong gia đình và các nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng.
- Tranh chúc tụng: thể hiện những ước mơ ngàn đời của nhân dân lao động (com no, áo ấm, làm ăn thịnh vượng...).
- Tranh lịch sử: nội dung ca ngợi các tấm gương anh hùng dân tộc: Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền...
- Tranh truyện: thể hiện các tích truyện ca ngợi chính nghĩa, đạo đức tốt đẹp... nhằm truyền tải nội dung giáo dục tới người xem: Truyện Kiều, Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Sanh,...
- Tranh phương ngôn: vẽ người, vẽ vật những ý đồ thế hiện là các triết lý sống đã được dân gian tổng kết: Thầy đồ cóc, Vinh quy, Hứng dừa, Đánh ghen,...
- Tranh cảnh vật: thể hiện và ca ngợi quê hương đất nước, thiên nhiên.
- Tranh sinh hoạt: phản ánh công việc đồng áng, các trò vui, hội hè, nhiều khi là những bức tả thực cảnh sinh hoạt nhưng là để châm biếm, phê phán các thói xấu, hủ tục.
2.2. Về nội dung
Nội dung chủ yếu của tranh Đông Hồ phản ánh sâu sắc, toàn diện các khu vực đời sống tinh thần- vật chất của con người- xã hội, theo quan điểm thẩm mỹ dân gian độc đáo. Đó là những bức tranh khắc họa tài ước mơ ngàn đời của người lao động, về một cuộc sống đình no ấm, thuận hòa, hạnh phúc, một xã hội công bằng tốt đẹp. Đó là những trò vui chơi dân gian lành mạnh nhưng không kém vui nhộn (đánh vật, múa sư tử, rước rồng...) được diễn tả bằng màu sắc. Đó là những bức tranh thờ được chủ nhà treo trang nghiêm nơi thờ cúng tổ tiên những bức tranh rực rỡ hình ảnh các anh hùng dân tộc (Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi...) góp phần đưa chúng ta người trở lại những trang sử hào hùng của dân tộc, từ đó khơi dậy lòng yêu nước, thương nòi cho các thế hệ. Cũng có không ít những bức tranh tấn công trực diện vào các thói hư, tật xấu, các điều ngang trái bất công trong xã hội (đánh ghen, lão giảng độc, tiến sỹ chuột vinh quy...).
Với những nội dung phong phú, đa dạng phù hợp tâm tư nguyện vọng, tư tưởng và tình cảm của nhân dân lao động, tranh Đông Hồ đã “hòa trong máu, thấm trong thịt, bám trong tâm khảm" biết bao thế hệ của dân tộc, cho tới ngày nay. Tranh Đông Hồ không chỉ là di sản vô cùng quý báu trong kho tàng nghệ thuật của dân tộc, mà còn có một vị trí quan trọng trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Một nhà nghiên cứu người nước ngoài (Mechele Abran) đã nhận xét rất tinh tế: "Người ta đã tìm thấy trong những tờ tranh đó quan niệm về cái đẹp, ý thức thiên bẩm về hình họa, những bố cục hài hòa có nhịp điệu của dân tộc này".
3. Quy trình sản xuất tranh dân gian Đông Hồ
Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu, song có thể tạm chia thành các công đoạn chính như sau: khâu sáng tác mẫu tranh, vẽ tranh, khắc ván và khâu in/vẽ tranh. Cụ thể:
3.1. Sáng tác mẫu tranh
Công việc sáng tác mẫu tranh tốn rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hoà, bố cục chặt chẽ và có giá trị nghệ thuật cao. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu. Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay chúng ta cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.
Đối với việc sản xuất mẫu tranh dân gian Đông Hồ, trước khi những tờ tranh được sản xuất hàng loạt để tung ra thị trường, trước tiên phải có mẫu tranh mới ra đời. Đây chính là quá trình lao động sáng tạo của các nghệ nhân trong việc tìm tòi, đầu tư suy nghĩ về nội dung, hình thức, bố cục, cách phân bố màu, cũng như sử dụng thơ hoặc từ ngữ chú thích. Việc sáng tác màu tranh yêu câu người nghệ nhân phải lao động sáng tạo cả bàn tay, khối óc, sự tinh tế, tài hoa trong nét vẽ.... Do đó đòi hỏi nghệ nhân phải có trình độ thẩm mỹ, sự sáng tạo trong tư duy và tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm.
Công việc sáng tác mẫu tranh tốn nhiều thời gian, người nghệ nhân muốn sáng tác một mẫu mới phải mất hàng tháng để tìm tòi về đề tài mình lựa chọn, ý nghĩa, nội dung vừa sâu sắc, màu sắc trong tranh lại hài hòa, có giá trị nghệ thuật cao, phan bộ hình thức bố cục chặt chẽ, cách phân bố màu cho hợp lý.
Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực nho vẽ lên giấy bản móng và phẳng để người thợ khác, đục ván theo mẫu.
Tuy nhiên, việc sáng tác mẫu tranh dân gian không nhất nhất là việc sáng tạo của riêng một vài nghệ nhân, mà thường là kết quả chung của nhiều thế hệ. Mỗi thế hệ sáng tác một chút làm cho các bức tranh làng Hồ ngày càng hoàn hảo hơn. tranh có hai, ba dị bản khác nhau, hoặc trong một tranh cũng có nhiều dị bản. Do đó trong tranh dân gian Đông Hồ có trường hợp một mẫu có hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Chính vì vậy mà cho đến nay chúng ta chưa xác định được chủ nhân đã sáng tạo ra.
3.2 Quy trình vẽ tranh
Trong quá trình vẽ tranh người làng Hồ phải chuẩn bị cho mình các loại bút vẽ. Bộ bút vẽ đồ khoảng từ 20-30 chiếc lớn, bé các loại. Mỗi màu vẽ có từ 4-6 chiếc bút nhỏ, to. Bút vẽ tranh được các nghệ nhân tự tạo từ lông chó, lông dê.
Người làng Hồ vẽ tranh theo cách thức khác nhau, đó là tô màu, vờn màu trên tranh đã được in ván nét trước và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy đã bồi màu.
Khi vẽ tranh trên giấy đã in ván nét, người nghệ nhân chỉ việc phân bố màu sắc cho hài hòa, hợp lý, sao cho thể hiện rõ nội dung của bức tranh mà vẫn biểu đạt được giá trị thẩm mỹ. Việc phân bố màu sắc cũng chỉ là tương đối, vì vậy cùng một mẫu tranh đã được in ván nét trước đó, có nghệ nhân bố cục phía sau ván in để cầm co ván in tranh. Khi in xong lại tháo co ván ra, đóng vào ván cầm in để tiếp tục in.
Xơ mướp: Quả mướp già để lấy xơ mướp, xơ của nó vừa mềm, vừa dai. Khi in tranh xoa xơ mướp phía sau giấy in tranh.
Khi vẽ tranh, người ta cũng lần lượt tô hết màu này, phơi khô mới tiếp tục vờn, vẽ màu khác. Trong các loại tranh vẽ có nhiều loại tranh người ta không tô các loại màu lên tranh mà chỉ vờn thủy mặc (đen trắng) lên các hình vẽ đã được in lên tờ tranh, loại tranh này trông giản dị song lại có sắc thái riêng.
3.3. Khắc ván tranh
Nghệ nhân khắc ván là người có kỹ năng chạm khắc giỏi. Trước khi khác văn, mời nghệ nhân phải chọn gỗ để thực thi công việc. Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét, các nghệ nhân thường chọn gỗ thị hoặc gỗ thừng mực (tốt nhất là gỗ thị). Gỗ thị thớ đa chiều, vừa mềm dễ khắc lại vừa dai, do đó khi khắc ván in nét tạo ván gọn, mảnh nhỏ, tinh vi và ván in lại bền. Gỗ thừng mực nhẹ, do đó dễ khắc hơn nhưng độ bền không cao. Ván in màu bằng gỗ giỏi hay gỗ mỡ, là loại gỗ mềm, thớ gỗ mịn, nhẹ dễ hút màu, vì vậy khi in tranh mới đượm màu.
Dụng cụ để khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng từ 30-40 chiếc bao gồm: - Móng: Lưỡi lòng máng, cong nhiều.- Thắng: Lưỡi thắng; Thoảng: Lưỡi hơi lòng máng;- Dây nền: Lưỡi lòng máng, thân uốn cong để dũi, đào sâu xuống gỗ.
Các loại: Móng, thẳng, thoảng, dây, nền mỗi loại to nhỏ có
Trước đây người sáng tác mẫu tranh với người khác ván thường là thuộc các nghệ nhân tên tuổi trong làng. Sau này do sự phân công lao động, có nghệ nhân vừa sáng tác mẫu tranh vừa khắc ván, có nghệ nhân chỉ sáng tác mẫu tranh, có nghệ nhân chỉ khắc ván.
3.4. Quy trình in tranh
Quá trình in tranh người làng Hồ in các ván in màu trước, cuối cùng mới in ván in nét. Khi in những tờ tranh có nhiều màu, người ta thường in màu đỏ trước, sau đó đến màu trắng, màu vàng, màu xanh, mỗi màu một lần in. Nếu tờ tranh có 5 màu thì phải in cả thảy 5 lần, nếu tờ tranh có 4 màu thì cả thảy in 4 lần. Để cho các lần in tranh ăn khớp với nhau, trên mỗi ván in tranh đều có dấu hay còn gọi là điểm cữ, đó là 2 dấu ván ngay bên cạnh phía bên phải ván khi lật ngửa ván in. Do đó khi xem kỹ các tờ tranh chúng ta thấy có 2 dấu tròn nhỏ trên tranh.
Khi in xong các mảng màu, người làng Hồ mới in ván nét sau cùng. Ván in nét in màu đen người ta còn gọi là in cắt nét. Việc in ván nét xem ra phải công phu hơn, cẩn thận hơn ván in màu, bởi nó là khâu cuối cùng để in tranh và ván in này in những đường nét cơ bản nhất của tờ tranh (như đường cong uốn của tranh đồ họa vậy). Do đó khi phết bia, lấy màu vào chổi lá thông in được vài tờ lại phải lấy màu phết bia lại, có như vậy tranh mới nét, mới đều được.
3.5. Cách thức in tranh
Trước khi in tranh người làng Đông Hồ phải chuẩn bị sẵn giấy in tranh để một tập độ 100-200 tờ trước mặt, bia để phết màu bên phía tay phải, xơ mướp để ngay cạnh lòng, chậu màu đã pha bên trên hoặc bên dưới bia phết màu.
Khi in người ta nhúng thép lá thông vào chậu màu để lấy màu rồi quét thật đều nhúng màu lên bia quét đi quét lại sao cho màu trải đều trên mặt bia. Thét lá thông nhúng vào chậu màu phải thật khéo, nếu nhúng sâu quá sẽ lấy lên nhiều màu, mặt bia sẽ bị vồng quá, do đó khi in tranh dập ván lên mặt bia tranh dễ bị nhòe. Nếu nhúng thép vào chậu nông quá, khi quét lá thông lên mặt bia, mặt bia khan quá, dập ván xuống mặt bia không đủ phẩm làm ướt hết mặt ván nên in tranh không rõ hoặc chỗ rõ chỗ không.
Phương pháp in tranh dân gian Đông Hồ theo cách xếp ván, tức là cầm co ván mà dập đi dập lại ván xuống mặt bia (bia đã được phết màu) để cho màu thấm đều trên mặt hình, chứ đã khác trên mặt ván, sau đó đặt ván in lên tờ giấy định in sao cho cân đối, chính xác, ấn mạnh cho ván in vào tờ giấy có sự liên kết nhất định rồi lật ngửa ván in có dính cả tờ giấy in tranh lên, lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy để cho phẩm màu đã thấm đều trên mặt ván được tiếp tục thấm đều trên mặt giấy. Tiếp đó là việc cầm mép tờ tranh gỡ tranh ra khỏi ván in tranh. Người ta để những tờ tranh mới in xong so le nhau theo hàng, theo lối trên chiếc phên tre rồi phơi trong nhà thoáng mát hoặc ngoài sân chỗ có bóng dâm để tranh khô dần dần.
Lúc tô màu, vờn màu trong tranh, người làng Đông Hồ thường vẽ các màu nhạt như màu vàng, màu xanh non, màu hiên trước, sau đó mới tô màu, vờn các màu xanh lục, màu son, màu lam sau. Khi tô màu, vờn màu xem ra có vẻ là đơn giản, người làng Hồ chỉ việc tô màu trên các hình vẽ đã được in trên tranh. Song cũng đòi hỏi sự khéo tay từ việc lấy màu vào bát vẽ sao cho vừa phải tránh vồng quá, khan quá, lúc xừ lý những mảng, miếng lớn sao cho không có hằn, có vệt tạo cho các màu sắc trong tranh trong sáng.
3.6. Màu sắc sử dụng trong tranh Đông Hồ
+ Màu trắng: Được chế từ mai con điệp ở dưới biến, tán nhỏ, mịn, đặc điểm của màu trắng điệp óng ánh, lấm tấm như vay bạc. Sau khi tân nhỏ người ta nắm nhỏ như nắm cơm nắm (độ khoảng 0,7-0,8kg/1 năm), phơi khô cất đi, khi nào dùng đến bửa ra luyện với hồ nếp để bồi giấy hoặc in tranh (in màu trắng).
+ Màu đỏ vang: Được chế từ cây gỗ vang trên rừng, cây vang được của ra từng đoạn ngắn, chẻ nhỏ, cho vào nồi ninh kỹ đêm, ngày, cô lại thành màu đỏ sẫm.
+ Màu son: Lấy từ bột sỏi son nhặt trên núi, tán nhỏ thành màu son núi.
+ Màu đen: Lấy từ than lá tre khô, than rơm đem ngâm nước, ngâm càng lâu màu càng đen, càng đượm.
+ Màu vàng: Được chế từ hoa hòe hoặc hạt cây dành dành, trước khi nỉnh kỹ phải sao vàng, khi đun phải nhỏ lửa.
- Thét lá thông: Được chế từ lá cây thông khô, buộc chặt, buộc nhiều tầng, lớp (như kiểu buộc chổi), thét lá thông dùng để bồi màu lên nền giấy.
- Bìa: Được làm để phết màu lên trên mặt bìa, sau đó dập ván in lên mặt bìa ván in được màu để in lên tranh. Bìa được làm rất đơn giản, người ta đóng 1 khung gỗ hình chữ nhật dài 50-60cm, rộng 35-40cm, cao khoảng 10-15cm, dùng cây bòng bong hoặc giấy vụn nèn chặt, sau đó dải một lớp lá chuối hoặc giấy bóng lên và cuối cùng là căng một miếng vải dày (thường là vải diễm bâu).
Co ván: Là vật dụng cầm ván để in, người ta thường chọn những cành cây vừa phải có khúc cong và đèo đi làm có văn, ở đầu co ván đóng gá đinh trước khi in đóng co ván vào
4. Ý nghĩa và nghệ thuật trong tranh Đông Hồ
4.1. Ý nghĩa
Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài như vậy cũng bởi những đề tài trong tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi với văn hóa người Việt Nam. Đó là con trâu, con gà, con cóc, cảnh đi chăn trâu, các trò chơi ngày tết như bịt mắt bắt dê, đánh đu… Nét vẽ giản dị, trong sáng, khoáng đạt chứ không cầu kì đi vào chi tiết. Việc dùng màu sắc trong tranh cũng có ý nghĩa riêng và phù hợp với từng đề tài: màu đỏ trong tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội, ngột ngạt của không khí lúc đó, màu vàng trong tranh ngày xuân thể hiện cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân, màu hồng nhạt thể hiện cho sự yên bình của làng quê…
Tranh Đông Hồ không chỉ là sản phẩm mỹ thuật mà là di sản tinh thần của dân tộc. Giữa thời đại công nghiệp hoá, tranh Đông Hồ nhắc nhở mỗi người về: Cội nguồn làng quê; Nếp sống chân thật và Triết lý vui – thiện – lành trong tâm hồn người Việt.
Mỗi bức tranh là một câu chuyện, một nụ cười, một bài học giản dị mà sâu sắc. Giá trị ấy khiến tranh Đông Hồ trở thành dòng tranh dân gian vừa cổ truyền vừa hiện đại, có sức sống bền bỉ, được yêu mến không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Tranh dân gian Đông Hồ là một “bảo tàng thu nhỏ” của văn hoá Việt, nơi hội tụ tinh hoa của bàn tay, khối óc và tâm hồn người dân đồng bằng Bắc Bộ. Việc bảo tồn và phát huy dòng tranh này không chỉ là trách nhiệm với quá khứ mà còn là hành động gìn giữ bản sắc và nuôi dưỡng niềm tự hào văn hoá trong hiện tại và tương lai.
4.2. Nghệ thuật trong tranh dân gian Đông Hồ
Sáng tạo nghệ thuật trong tranh dân gian Đông Hồ không phải là cảm hứng trong sáng tác. Mỗi bản in thể hiện một truyền thuetes hoặc một câu chuyện mang tính triết lý, một bức thông điệp đầy màu sắc về đạo đức, luân lí và tín ngưỡng sâu sắc, hay một thông điệp từ hàng ngàn năm trước của cha ông.
Tranh in cũng thể hiện tính dí dỏm, khung cảnh ấm cúng của Tết Nguyên đán đó là: Hạnh phúc, may mắn và thịnh vượng. Các con vật gần gũi với làng quê như cóc, gà, vịt, trâu, rồng và cá là biểu trưng cho hạnh phúc, thịnh vượng, sự chăm chỉ cần cù, thông minh.Chúng ta cũng có thể thấy những bình luận về xã hội phong kiến qua các hình tượng tranh Đông Hồ. Bức tranh nổi tiếng Đám cưới chuột là thể hiện tài tình các thói hư tật xâu của xã hội phong kiến thông qua hình tượng các con vật một cách dí dỏm và sâu sắc.
Trong tranh Đông Hồ, ta bắt gặp quan niệm “sống hơn giống”. Tranh dân gian Đông Hồ không áo dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tắc về ánh sáng hay luật xa gần của tranh hiện đại mà mang nhiều tính ước lệ trong bố cục, trong cách miêu tả về màu sắc. Mặc dù sự vật, hiện tượng trong tranh không sát với thực tế đến từng chi tiết và cũng có khá nhiều tranh trái với thực tế (như Em bé ôm cóc xấu xí, em bé ôm con tôm, con cá với kích thước rất lớn…) nhưng lại rất sống động, có hồn. Nghệ nhân làm tranh dường như ít quan tâm đến những quy tắc, công thức hình họa mà công dụng để thổi vào đó sự rung cảm của tâm hồn nghệ sũ với những triết lý nhân sinh… Tất cả đều sử dụng lối vẽ đơn tuyến bình đồ để thể hiện, do đó xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng hợp lý hợp tình. Nghệ thuật vẽ của tranh Đông Hồ còn mang dáng dấp của nghệ thuật thời nguyên thủy. Điều này càng minh chứng cho tính cổ xưa của dòng tranh này.
5. Công tác bảo tồn và phát huy tranh Đông Hồ
5.1. Thực trạng
Từ cuối thế kỷ XX, làng tranh từng suy thoái mạnh bởi sự cạnh tranh của tranh công nghiệp, thay đổi thị hiếu và khó khăn kinh tế khiến nhiều gia đình bỏ nghề. Nhiều bản khắc cổ bị thất lạc, kỹ thuật truyền thống đứng trước nguy cơ mai một.
Hiện nay, tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm mỹ của người dân thay đổi, “đầu ra” cho tranh gặp nhiều khó khăn. Dân làng tranh giờ đây chủ yếu làm hàng mã. Bên cạnh đó, theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ không còn mang tính hồn nhiên, chất phác, “thuần Việt” như xưa, mà đang dần bị thương mại hoá, không có màu sắc thắm như tranh cổ, do người ta trộn màu trắng vào điệp để tiết kiệm lượng điệp, khiến giấy mất độ óng ánh. Đồng thời, màu sử dụng cũng chuyển sang dùng loại màu công nghiệp cho rẻ và tiện, các bản khắc mới thường thô và sơ sài, không được tinh tế như bản cổ. Đặc biệt, một số bản khắc đã bị đục bỏ phần chữ Hán, hoặc chữ Nôm, vốn là một phần cấu tạo nên bố cục của tranh, khiến tranh bị mất đi tính hoàn chỉnh.
Nghề làm tranh Đông Hồ ngày nay tồn tại “yếu ớt”, chỉ còn một vài gia đình duy trì. Theo thống kê mới đây, số lượng nghệ nhân hiện chỉ còn 3 người, số lượng người thực hành khoảng 20 người, số nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy chỉ còn 2 người (ông Nguyễn Hữu Sam và ông Nguyễn Đăng Chế) đều đã cao tuổi.
Về sự đổi mới đề tài, sáng tạo chủ đề, nội dung cho tranh Đông Hồ chưa phong phú, đa dạng để có thể lấp đầy khoảng trống từ quá khứ. Các nghệ nhân Đông Hồ đã có những sáng tạo và thử nghiệm nội dung, đề tài mới cho tranh nhưng chưa thực sự hiệu quả.
Khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực trẻ thực hành nghề: các hạt nhân trẻ của nghề tranh truyền thống đang được gây dựng nhưng ở mức độ rất ít ỏi. Một thực tế khó khăn là các thế hệ thanh niên trẻ của làng Đông Hồ đã có xu hướng đi tìm những công việc có nguồn thu nhập ổn định và theo các cháu là sẽ đảm bảo được cuộc sống ở mức cao hơn so với nghề làm tranh.
Về phía nghệ nhân làm tranh, khó khăn không chỉ ở việc sáng tạo chủ đề mới, hay ở việc tìm kiếm thị trường, mà ngay cả việc truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ cũng trở nên bức thiết. Nếu họ đào tạo người sáng tác theo chủ đề mới, thì phải chăng sẽ làm giảm tính dân gian trên dòng tranh này? Hay những người họa sĩ sáng tác mẫu tranh, họ tự nguyện sáng tác cho Đông Hồ những mẫu tranh mới để các nghệ nhân làm theo, thì chưa chắc đã giữ được tính dân gian của bức tranh.
5.2. Công tác bảo tồn và phát huy
5.2.1. Công tác quản lý nhà nước
Chính quyền địa phương, các ban, ngành của tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chủ trương, chính sách giúp cho hoạt động bảo tồn nghề làm tranh Đông Hồ được thực hiện.
Trước tiên phải kể đến việc thành lập tổ tranh của Hợp tác xã nông nghiệp huyện Thuận Thành vào năm 1967. Tổ sản xuất tranh Đông Hồ do cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam làm tổ trưởng, đã hoạt động gần 30 năm trước khi tự giải thể. Thành quả đạt được là, cộng đồng làng Đông Hồ đã sản xuất và xuất khẩu được nhiều tranh đi các nước xã hội chủ nghĩa, sang thị trường Liên Xô cũ, Đông Âu. Đặc biệt, đó là thời kỳ đỉnh cao mà tranh Đông Hồ chinh phục được thị trường trong nước.
Ngày 7-12-2012, Bộ VHTTDL đã công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1) gồm 33 di sản trong đó có tranh dân gian Đông Hồ là nghề thủ công truyền thống (theo Quyết định số 5079/QĐ- BVHTTDL). Từ đó góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo tồn nghề tranh một cách hiệu quả.
Ngày 7-2-2013, Bộ VHTTDL đã quyết định việc xây dựng hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” trình UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp (theo văn bản số 472/BVHTTDL - DSVH). Đây là một hoạt động mang tính bước ngoặt để gìn giữ và phát triển bền vững tranh Đông Hồ.
Từ năm 2004, Sở VHTTDL Bắc Ninh đã thực hiện dự án “Bảo tồn văn hóa phi vật thể làng tranh dân gian Đông Hồ”. Đến năm 2013, Sở VHTTDL Bắc Ninh xuất bản ấn phẩm sách Bảo tồn Di sản văn hóa làng tranh dân gian Đông Hồ (cuốn sách này đã được bổ sung, tái bản vào năm 2016). Đây là các hoạt động nghiên cứu, kiểm kê di sản, xuất bản các ấn phẩm sách nhằm giới thiệu, quảng bá nghề tranh Đông Hồ.
Đồng thời, chính quyền địa phương đã bắt đầu có sự quan tâm, hỗ trợ cho các gia đình nghệ nhân cũng như đầu tư cho làng nghề Đông Hồ như: có các chính sách hỗ trợ mở rộng không gian sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi, huy động các phương tiện truyền thông trong phạm vi địa phương quảng bá cho sản phẩm tranh và người làm tranh; trực tiếp mua các sản phẩm làm quà tặng, quà biếu; chỉ đạo, phối hợp với cơ quan chuyên môn để mở một số lớp truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, gây dựng hạt nhân mới cho làng nghề; có định hướng xây dựng mối quan hệ giữa nghệ nhân làm tranh Đông Hồ với hệ thống các nhà trường trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh, đưa học sinh đến tham quan, giới thiệu cho các em hiểu về giá trị của tranh dân gian Đông Hồ bằng các giờ ngoại khóa của nhà trường...
Ngày 30-10-2018, UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ, xúc tiến xây dựng, khôi phục chợ tranh dân gian Đông Hồ (theo Quyết định số 1972/ QĐ-UBND). Qua đó chứng minh bước đột phá về quy mô đầu tư của chính quyền địa phương đối với nghề tranh Đông Hồ. Với sự nỗ lực của địa phương, Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ đã khánh thành và đi vào hoạt động từ đầu năm 2023. Đây là nơi trưng bày, giới thiệu các sản phẩm, quy trình làm tranh dân gian Đông Hồ và nơi tiếp tục phát huy, kết nối, phổ biến, lan tỏa các giá trị tốt đẹp của dòng tranh này đến với du khách trong và ngoài nước. Từ đó, nghề làm tranh Đông Hồ sẽ khẳng định giá trị đóng góp về kinh tế, văn hóa, du lịch có thể mang lại cho địa phương.
Năm 2019, UBND tỉnh Bắc Ninh đã có Công văn trình Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Ủy Ban quốc gia UNESCO Việt Nam, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Bộ VHTTDL để xây dựng hồ sơ Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, trình UNESCO xem xét, ghi danh di sản vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Quá trình xây dựng Hồ sơ đang bước vào giai đoạn sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện tiếp theo. Đây là chương trình hành động thực tế có ý nghĩa quan trọng nhằm tôn vinh, khẳng định giá trị văn hóa, xã hội to lớn của di sản nghề làm tranh dân gian Đồng Hồ của Việt Nam trên toàn thế giới. Nếu di sản nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam được UNESCO ghi danh sẽ giúp cho quá trình bảo vệ, phát huy giá trị di sản nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được thuận lợi và góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng, các nghệ nhân cũng như người làm nghề tranh dân gian Đông Hồ tiếp tục tham gia, đồng hành vào quá trình gìn giữ, truyền dạy nghề, phát huy di sản đến các thế hệ sau.
5.2.2.Về phía cá nhân, tập thể, nhóm người, cộng đồng làm nghề tranh
Hiện nay, các nghệ nhân, hộ gia đình ở Đông Hồ vẫn đang nỗ lực, tiếp tục gìn giữ và phát triển nghề làm tranh truyền thống này. Điều đó thể hiện bằng các việc làm cụ thể như:
Cộng đồng người làm tranh ở Đông Hồ đã có sự đổi mới, đột phá trong hình thức tổ chức sản xuất tranh truyền thống. Đến nay, tuy chỉ còn 3 hộ gia đình làm nghề tranh tại làng Đông Hồ, nhưng họ đã duy trì, phát triển dưới 2 hình thức tổ chức sản xuất là doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình. Doanh nghiệp tư nhân của gia đình ông Nguyễn Đăng Chế đã ra đời, lấy tên là: Trung tâm giao lưu văn hóa tranh dân gian Đông Hồ. Trung tâm được khánh thành tháng 7-2008, trên khuôn viên rộng hơn 5.000m2. Đây là nơi sản xuất, tham quan, trưng bày và bán sản phẩm tranh dân gian Đông Hồ. Ngoài ra, làng Đông Hồ có 2 gia đình vẫn gìn giữ hoạt động sản xuất tranh là gia đình ông Nguyễn Hữu Quả và gia đình bà Nguyễn Thị Oanh. Họ đã có nhiều tìm tòi, đổi mới, sáng tạo với nghề tranh và cũng đạt nhiều thành tựu.
Các nghệ nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp làm tranh ở Đông Hồ đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Họ không chỉ làm ra các sản phẩm có mẫu mã đa dạng hơn, mà còn đổi mới việc quảng bá, bán tranh trên các kênh thông tin mới, đặc biệt là sự trợ giúp của mạng internet.
Ba gia đình làm tranh Đông Hồ hiện nay đang có thế hệ con, cháu nối tiếp nghề, cùng tham gia làm nghề. Gần đây, nghề làm tranh Đông Hồ đã có một số dấu hiệu khởi sắc. Làng tranh Đông Hồ đã và đang là điểm đến của các tour du lịch, tiếp đón nhiều đoàn khách trong và ngoài nước. Số lượng khách nước ngoài đến tham quan, tìm hiểu và mua tranh ngày càng tăng cao. Các gia đình làm tranh đã bắt đầu có thu nhập từ các hoạt động du lịch.
Như vậy, nghề làm tranh Đông Hồ đã và đang có nhiều dấu hiệu tích cực để phát triển. Đó là nhờ sự vào cuộc của nhà nước và chính quyền, cũng như sự nỗ lực, đóng góp công sức không nhỏ của những nghệ nhân làm tranh.
6. Phương hướng để bảo tồn và phát huy nghề làm tranh dân gian Đông Hồ
6.1.Mục tiêu, phương hướng chính sách
Mục tiêu: nhằm bảo tồn kế thừa và phát huy giá trị di sản nghề làm tranh Đông Hồ trước nguy cơ mai một.
Phương hướng: Cần bảo vệ khẩn cấp những giá trị di sản của nghề làm tranh có nguy cơ cao bị mai một như những bản khắc cổ. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa giá trị di sản nghề làm tranh từ truyền thống: từ bản khắc cổ đến quy trình kỹ thuật làm nghề tranh, vùng nguyên liệu… Trên cơ sở bảo tồn giá trị đó, nhà nước và cộng đồng địa phương cần phát huy di sản nghề làm tranh trong bối cảnh đương đại.
6.2. Những định hướng, giải pháp
Từ những khó khăn, hạn chế đặt ra trong việc bảo tồn nghề làm tranh Đông Hồ, cần một số giải pháp như sau:
Doanh nghiệp, hộ gia đình làm tranh của Đông Hồ cần đổi mới sáng tạo trong cách thức tiếp cận với thị trường. Các nghệ nhân phải căn cứ vào nhu cầu của khách hàng để đổi mới sản phẩm, mẫu mã và cách thức bán hàng; chủ động tìm các nguồn lực từ bên ngoài trong việc phân phối sản phẩm, cũng như đổi mới cách thức bán hàng, thay đổi thị trường truyền thống bằng các kênh bán hàng hiện đại.
Bảo tồn một nghề truyền thống không đơn giản chỉ là bảo tồn quy trình kỹ thuật, mà còn phải đặt nghề đó trong bối cảnh của làng nghề. Do vậy, để phát triển được nghề truyền thống cần kết hợp với du lịch làng nghề. Phát huy giá trị, vai trò sử dụng của công trình Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ gắn với xúc tiến du lịch văn hóa ở địa phương. Từ đó, quảng bá, kết nối với nhiều mô hình du lịch cộng đồng, tuyến du lịch di sản nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, kết hợp hài hòa giữa nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng sẽ thúc đẩy du lịch làng nghề phát triển.
Trong tương lai, các nghệ nhân Đông Hồ cần phải kết hợp chặt chẽ với các họa sĩ sáng tác thông qua các dự án liên kết cụ thể như: kết hợp tranh Đông Hồ với các mẫu thiết kế trên áo dài, trang phục…; kết hợp tranh Đông Hồ trên các chất liệu mới, khác biệt như: trên vỏ ly cà phê uống liền, trên vỏ bánh trung thu, trên chất liệu nhựa dẻo, kính in 3D, 4D…
Xây dựng mô hình hoạt động của “Bảo tàng làng nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” (ở cấp độ thôn, xã, huyện...) gắn với du lịch văn hóa làng nghề, sẽ góp phần bảo tồn, tôn vinh nghề truyền thống này. Đó cũng là nỗ lực của cộng đồng trong việc bảo vệ một di sản văn hóa của quốc gia.
Nhà nước, chính quyền địa phương cần quan tâm xây dựng, duy trì các lớp truyền dạy nghề làm tranh tại làng Đông Hồ một cách hiệu quả, bền vững; khuyến khích, mở rộng tìm kiếm các học viên ở các làng khác có nhu cầu theo học nghề tranh; kết nối với các trường dạy nghề chuyên nghiệp và không chuyên về mỹ thuật để tìm kiếm các hạt nhân sáng tác mới cho tranh Đông Hồ.
Nhà nước cần tạo điều kiện, hỗ trợ tìm thị trường mới cho nghề tranh Đông Hồ; khuyến khích các nghệ nhân, họa sĩ liên kết trong các dự án thử nghiệm mới, sáng tạo nghệ thuật trên cơ sở tranh dân gian Đông Hồ; nâng cao nhận thức và nhu cầu của công chúng trong thưởng thức nghệ thuật dân gian.
Một số bức tranh tiêu biểu của Dòng tranh dân gian Đông Hồ:
1. ĐÀN LỢN ÂM DƯƠNG:
Trong cuộc sống ở nông thôn thời xưa, gà và lợn là hai vật nuôi vô cùng gần gũi, quen thuộc. Bằng những màu sắc, đường nét dân dã mang tính ước lệ cao, những con gà, con lợn trên tranh Đông Hồ đã cõng trên lưng mình cả một bầu tâm tư, khát vọng của những người nông dân.
Bức tranh Đông Hồ “Đàn lợn âm dương” miêu tả cảnh đàn lợn con quây quần quanh mẹ là ước muốn một cuộc sống sung túc, bình an vô sự. Hình ảnh xoáy âm dương trên mình lợn thể hiện sự sinh sôi, nảy nở. Trước đây, tranh “Đàn lợn âm dương” được treo nhiều trong ngày Tết là để thể hiện mong ước năm mới thịnh vượng, phát tài phát lộc, đông con nhiều cháu. Người ta thường tặng cho vợ chồng mới cưới để chúc họ sớm có con. Nhiều thế hệ người Việt từng thuộc bài thơ "Bên kia sông Đuống" của thi sĩ Hoàng Cầm, trong đó có câu:
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong, Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"
2. ĐÀN GÀ MẸ CON
Bức tranh ''Đàn gà mẹ con'' biểu trưng cho sự hạnh phúc, đầm ấm trong gia đình, đồng thời, làm toát lên sự hy sinh, vất vả của người mẹ khi kiếm mồi cho đàn con. Ngoài ra, bức tranh còn cho thấy thực tế xã hội khi muốn nhấn mạnh việc một mẹ có thể nuôi được 10 con, nhưng chưa chắc 10 người con có thể nuôi được mẹ.
Bức tranh “Đàn gà mẹ con” có 4 màu: màu đỏ nâu, màu xanh, màu vàng, màu đen. Trong hình bên dưới là lần in màu đen sau cùng để hoàn thành tác phẩm
3. ĐÁM CƯỚI CHUỘT:
“ĐÁM CƯỚI CHUỘT” là bức tranh nổi tiếng của làng Đông Hồ, theo các nhà nghiên cứu thì tranh được sáng tác khoảng 500 năm trước. Để hoàn thành bức tranh “Đám cưới chuột”, người nghệ nhân cần đến 4 khuôn in (xem hình bên dưới), mỗi khuôn in được 1 màu, như vậy cần đến bốn lần in. Màu đen in cuối cùng. Bức tranh ''Đám cưới chuột'' mang nội dung vừa hài hước, vừa châm biếm sâu xa. Hài hước ở chỗ, làm sao lại có chuột lấy vợ và đi rước dâu!? Người nghệ nhân dân gian đã thổi hồn vào tác phẩm, nhân hóa loài chuột để chúng mang dáng dấp con người, cũng biết làm đám cưới. Châm biếm ở chỗ, chú rể chuột kia muốn đón dâu lại phải mang chim và mang cá cống cho mèo.
Trong tranh có 12 con chuột và 1 con mèo. Tranh được chia làm 2 phần: Tầng trên là cảnh dâng lễ cho mèo với bốn con chuột. Tầng bên dưới là cảnh đón dâu với tám con chuột, dẫn đầu là “chú rể chuột” đang ngồi trên lưng ngựa. “Cô dâu chuột” ngồi trong kiệu cũng vấn khăn, mặc áo gấm xanh và nhìn chú rể đang cưỡi ngựa đi phía trước vẻ tự hào mãn nguyện.
4. HỨNG DỪA
“Hứng dừa" phác họa một gia đình hạnh phúc”. Tình cảm hồn nhiên trong sáng được phác họa qua hình ảnh trái dừa và các hoạt động. Người con trai đảm nhận công việc hái dừa trên cao là chứng tỏ bản lĩnh và trách nhiệm của người trụ cột gia đình. Người con gái dùng váy hứng dừa từ người con trai trao cho vì sợ dùng tay không đỡ được, nếu trái dừa rơi xuống sẽ vỡ ra, cũng như hạnh phúc "rơi xuống" sẽ không còn nguyên vẹn, điều này thể hiện sự trân trọng của cô gái đối với hạnh phúc mà mình đang có.
Trên tranh có hai câu thơ lục bát rất hay và ý nghĩa: "Khen ai khéo tạc nên dừa Đấy trèo đấy hứng cho vừa một đôi”
5. VINH QUY BÁI TỔ
Bức tranh này có có tên là Quan trạng về làng. Trước đây, đỗ trạng nguyên không chỉ là niềm vinh dự cho vị tân khoa, cho cha mẹ, họ hàng, làng xóm, mà còn là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, đấng sinh thành và thầy dạy theo đúng đạo lý Việt Nam: "Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy".
Vào năm 1484, Vua Lê Thánh Tông ban lệ "BIA ĐÁ ĐỀ DANH", nghĩa là danh tính của các tân khoa tiến sĩ trong các kỳ thi, được khắc vào bia đá, dựng ở Văn Miếu tại Thăng Long để vinh danh người tài và khuyến khích học tập.
Theo sử sách, tính đến năm 1800, nước ta đã có 2.266 vị tiến sĩ. Cũng kể từ năm 1484, các tân khoa được nhà vua ban yến tiệc, mũ áo, cân đai và cho lính hầu đưa rước về nơi sinh quán. Dân chúng trong tỉnh huyện, làng xã hãnh diện đón rước vị tân khoa với cờ, lọng, chiêng, trống rầm rộ. (Tên của vị trạng nguyên đôi khi còn được gọi theo tên của làng quê nơi sinh ra vị tân khoa đó, ví dụ như Trạng Phùng Khắc Hoan, còn được gọi là Trạng Bùng (do ông sinh ra tại làng Bùng, nay là làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội).
Nếu vị tân khoa đã có gia đình thì người vợ cũng được đón rước cùng với chồng theo đúng lệ "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau". Khi về tới làng, vị tân khoa sẽ đến nhà thờ tổ của dòng họ và đình làng bái tạ tổ tiên, rồi về bái tạ thầy dạy và cha mẹ.
6. VINH HOA - PHÚ QUÝ
Có lẽ đây là hai bức tranh được nhiều người biết đến nhất, nhìn vào tranh có thể nhận ra ngay đó là tranh Đông Hồ. Tranh với nội dung cầu mong bé trai và bé gái trong gia đình khi lớn lên có cuộc sống thành đạt, hạnh phúc và may mắn.
Hai bức tranh này có bố cục đơn giản, tập trung đặc tả con người và các con vật, hoa lá, màu sắc tươi vui, các mảng màu mạnh mẽ, giàu tính trang trí gợi cảm. Đường nét to khỏe uyển chuyển, khuôn mặt em bé sinh động rạng rỡ, xinh xắn thật đáng yêu.
7. LÝ NGƯ VỌNG NGUYỆT / CÁ CHÉP TRÔNG TRĂNG
Cá chép gắn liền với hình ảnh cá vượt vũ môn, biểu tượng cho sự thăng tiến về tiền tài, công danh, sự nghiệp. Tranh cá chép trông trăng còn được gọi là tranh “lý ngư vọng nguyệt” với hình ảnh: cá chép, mặt trăng và hoa sen, đều là những hình ảnh đẹp, giàu ý nghĩa biểu tượng.
Cá chép nhắc người ta nhớ đến truyền thuyết nổi tiếng “Cá chép hóa rồng”. Vì thế, bộ tranh cá chép được dùng như là tấm gương của ý chí, nỗ lực, vượt qua giới hạn bản thân để đến được bến bờ thành công.
8. CHĂN TRÂU THỔI SÁO - CHĂN TRÂU THẢ DIỀU
Chăn trâu thổi sáo và Chăn trâu thả diều với ý nghĩa ca ngợi cuộc sống bình yên ở các làng quê Việt Nam trước đây và cầu mong khát vọng về sự thành đạt của con người. Đây là hai bức tranh thể hiện cuộc sống giản dị và thanh bình của những em bé chăn trâu ngày xưa. Con trâu vừa là tài sản lớn của gia đình mà chú bé phải trông nom, lại vừa là người bạn thân thiết của chú bé.
Trong tranh, chú bé vừa chăn trâu và vừa vui thổi sáo, vừa chăn trâu vừa vui thả diều. Phía trên đầu có tàu lá sen và cánh diều che nắng. Con trâu có vẻ hào hứng khi vểnh tai lên nghe tiếng sáo và phi nước đại cùng cánh diều bay bổng trên cao.
Trong đời sống nông nghiệp trước đây, con trâu được xem là tài sản quý của người nông dân - ‘’Con trâu là đầu cơ nghiệp’’, hoặc có những câu ca dao rất hay mà nhiều người biết đến:
''Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa trổ bông Đồng đầy ngọn cỏ tha hồ trâu ăn''
Nhìn vào bức tranh này, chúng ta cảm nhận được niềm vui và sự hồn nhiên của tuổi thơ những em bé chăn trâu ngày xưa.
9. LỢN ĂY CÂY RÁY
Tranh Đông Hồ ở vùng Kinh Bắc nổi tiếng không chỉ bởi bố cục, đường nét mà mỗi một bức tranh đều mang hàm nghĩa sâu xa, trong số những tác phẩm đó, không thể không kể đến bức tranh “Lợn ăn cây ráy”.
Nghệ nhân dân gian đã tạo ra bức tranh "Lợn ăn cây ráy" mô tả một con lợn trong tư thế nằm ngang với thân hình đồ sộ, mũm mĩm chiếm gần hết bức ảnh. Lợn đứng, đuôi cong, tai vểnh, bốn chân hơi chụm lại. tạo thế phản đòn dồn sức để chộp lấy cây.
Đặc điểm của hầu hết những con lợn trong tranh như sau: Mõm dài, miệng rộng tới tận tai như một cái xô chắc chắn. Nhưng ông bà ta có câu “miệng xô ngày nhai hai gánh cám” chứng tỏ đó là loại lợn háu ăn - Lợn lưng rủ là loại lợn háu ăn, chóng lớn.
Trên lưng lợn, người ta thấy các nghệ nhân thường vẽ một đường viền khác màu và mọc một chùm lông lệch về một phía, loại lợn này ngoan, ăn khỏe và chóng lớn. Cây xanh, phổ biến nhất phải kể đến là cây khoai là thức ăn phổ biến của lợn. Trong hình, lợn miệng há rộng, ngậm chặt cúi mình trên cây, thân hình đồ sộ hơi ngả về phía sau với dáng đi mạnh mẽ, dứt khoát.
10. NHÂN NGHĨA - LỄ TRÍ
Tranh “LỄ TRÍ” với hình ảnh em bé ôm rùa được thể hiện ước nguyện cầu chúc cho sự mạnh khỏe và sống lâu, kính cẩn, tôn trọng với người bề trên. Ngoài ra, còn có được cái “LỄ” để ứng xử phải phép với mọi người, kính trên nhường dưới và cái “TRÍ” giỏi giang thông minh, lanh lợi. Tranh này còn được gọi bằng một cái tên khác là “Gái sắc bế rùa xanh” với ý cầu cho bé gái lớn lên được xinh đẹp, nhu mì, hiền dịu, chăm chỉ, đảm đang.
Còn tranh “NHÂN NGHĨA” với hình ảnh em bé ôm cóc tía thể hiện ước nguyện cho cậu bé trai khi lớn lên sẽ trở thành người tài giỏi để có thể bảo vệ, đòi quyền lợi công bằng cho những người xung quanh. Từ “NGHĨA” ấy chính là tình người, tình yêu thương cũng giống như chú Cóc: Tuy mình mẩy xấu xí nhưng dám cả gan kiện trời để đòi mưa cho dân làng. Tranh Nhân nghĩa vì vậy còn được gọi là tranh "Trai tài ôm cóc tía".